Liên kết website

Tài nguyên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Hội thi Duyên dáng học đường năm học 2015 - 2016 hoạt động chào mừng Đại hội XII của Đảng của trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng

    Phóng sự của Đài TT Gia Lai về thư viện trường TH Đinh Tiên Hoàng

    Gốc > Thư viện download tài liệu >

    SKKN

    I/ĐẶT VẤN ĐỀ:

    Môn Tiếng Việt ở Tiểu học nói chung và ở lớp Hai nói riêng nhằm hình thành và phát triển kỹ năng sử dụng Tiếng Việt để học tập và giao tiếp. Thông qua viêc dạy học Tiếng Việt nhằm rèn luyện các thao tác tư duy cho học sinh. Bên cách đó, Tiếng Việt  còn cung cấp cho học sinh những kiến thức đơn giản về Tiếng Việt , tự nhiên, xã hội, con người, văn hoá, văn học,v.v…. Môn Tiếng Việt còn bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt  và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt , góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam. Vì vậy môn Tiếng Việt ở Tiểu Học, được coi là môn công cụ, đặc biệt là đối với phân môn “Luyện từ và câu” là phân môn hoàn toàn mới trong chương trình Tiếng Việt lớp Hai. Hợp phần này là một hệ thống các bài tập về luyện từ và câu nhằm cung cấp cho học sinh tri thức đơn giản về loại từ và câu Tiếng Việt, nhằm mở rộng vốn từ cho các em, giúp các em nắm nghĩa của từ một cách chính xác. Luyện tập sử dụng từ theo chủ điểm đã học và rèn luyện cách sử dụng từ gắn với hoạt động giao tiếp. Mặt khác, phân môn luyện từ và câu giúp học sinh nhận biết được các từ chỉ sự vật, hành động, hoạt động, đặc điểm, tính chất,… nhận biết được các mẫu câu “ ai là gì?”, “ ai làm gì?”,

    “ ai thế nào?”,…. luyện tập về cách dùng dấu câu.

    Với nội dung trên, trong thực tế giảng dạy, giáo viên và học sinh  còn gặp nhiều khó khăn, việc sử dụng thiết bị dạy học đôi khi còn lúng túng. Đối với học sinh, vốn từ chưa nhiều nên khi sử dụng từ đặt câu đối với các em còn rất khó khăn.

    Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, sau một thời gian trực tiếp giảng dạy phân môn luyện từ và câu  trong chương trình Tiếng Việt Hai, tôi đã nghiên cứu, thực hiện và rút ra một vài kinh nghiệm trong việc giảng dạy “Luyện từ và câu” cho học sinh lớp Hai.  Qua đề tài này tôi muốn hệ thống hoá các bài tập ở phân môn “Luyện từ và câu”. Từ đó, giáo viên lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học thích hợp với từng kiểu bài, phù hợp với từng đối tượng học sinh, góp phân nâng cao chất lượng phân môn “Luyện từ và câu”  nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung.

     

    II/ NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN.

     

    A – PHÂN LOẠI CÁC KIỂU BÀI TẬP Ở PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU

     

    Để dạy tốt hợp phần này GV phải nghiên cứu nội dung chương của môn học từ đó có cơ sở để phân loại các dạng bài tập, lựa chọn PP, hình thức dạy học phù hợp.

    Nội dung “Luyện từ và câu” ở lớp Hai bao gồm từ ngữ và ngữ pháp được tổng hợp lại một phân môn cho nên rất khó tách bạch các bài tập luyện từ và bài tập luyện câu, nhưng do từ và câu là hai đơn vị tương đối độc lập, có những đặc trưng riêng, bên cạnh đó, yêu cầu luyện từ và câu ở Tiểu học có những nét riêng nên ở chừng mực nào đó, vẫn có thể phân biệt hai phạm vi luyện tập này. Mặt khác, từ mục tiêu, ý nghĩa, nội dung, cách dạy của từng bài nên ta có thể phân thành một số kiểu bài tập cơ bản và mỗi kiểu lại phân ra thành những dạng, loại nhỏ sau:

     

     

                                                                                - Ghép từ cho sẵn với hình vẽ

                                                                                   tương ứng qua tranh.

                                              MRVT                      - Tìm từ tương ứng theo tranh vẽ.

                                             (thông qua      - Gọi tên con vật  được vẽ ẩn trong tranh

                                             vốn sống)

    .

                     Mở rộng

                        vốn từ               MRVT theo                    - Tìm từ cùng chủ điểm.

                        (MRVT)           quan hệ                           - Tìm từ cùng nghĩa, gần nghĩa với                         theo              ngữ nghĩa                    từ cho sẵn.   

                       chủ điểm

                                                     MRVT theo quan hệ cấu tạo từ

     

     Hai

     kiểu                                                                             - Cho từ và nghĩa của từ, xác lập

                                                     Nắm nghĩa                  sự tương ứng.

                                                  của từ                              - Dựa vào từ cùng nghĩa, gần nghĩa

                                                                                            trái nghĩa, nhận biết nghĩa của từ.

     

                        Luyện tập             Luyện tập                   - Điền từ.

                        và sử dụng           và sử dụng từ             - Dùng từ đặt câu.

                             từ

                                                      Luyện tập                  - Gợi tả theo hình dáng, tiếng kêu,                                          phân loại,              kiếm ăn.

                                                      phân nhóm                - Phân loại theo môi trường sống

                                                      các từ                         nơi sống.

    Từ việc phân loại hệ thống bài tập trên, tôi đã lựa chọn các PP, hình thức dạy học cho phù hợp với mỗi dạng bài, kiểu bài cụ thể.

    B/ LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC DẠY HỌC CHỦ YẾU PHÙ HỢP VỚI CÁC LOẠI BÀI TẬP.

    Mỗi kiểu bài tập có thể phân ra thành những dạng nhỏ, mỗi dạng phân ra mỗi loại khác nhau. Mỗi dạng, mỗi kiểu bài tập có mục đích, yêu cầu khác nhau. Vì vậy tôi đã cố gắng lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học phù hợp với nội dung bài dạy, phù hợp với đối tượng học sinh, đặc biệt là phương pháp tích cực hoá các hoạt động  học tập của học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học phân môn này.

    1/Kiểu bài tập  “ Mở rộng vốn từ”

    1.1. Mở rộng vốn từ theo chủ điểm

    Mục tiêu: Hình thành  cho học sinh những hiểu biết ban đầu về một số kiểu ý nghĩa các từ trong một chủ điểm. Học sinh nắm được vốn từ ngữ của chủ điểm, hiểu nghĩa và nhớ những từ ngữ được qui định là cần ghi nhớ ở các chủ điểm.

    Học sinh phát hiện được vốn từ trên cơ sở những quan hệ ngữ nghĩa.

     

    Kiểu bài tập này có nhiều dạng nhỏ mỗi dạng có mục tiêu riêng.

    Chẳng hạn : Mở rộng vốn từ qua tranh vẽ

    Mục tiêu: Ở kiểu bài tập này, tranh vẽ là phương tiện trực quan, có tác dụng làm chỗ dựa cho việc tìm từ, mở rộng vốn từ của học sinh. Căn cứ vào mức độ dễ – khó, có thể chia kiểu bài tập này thành 3 dạng cơ bản:

    a/ Dạng bài tập: “ Ghép từ cho sẵn với hình vẽ tương ứng”.

    Dạng bài tập này vừa có tác dụng giúp học sinh nhận biết “ biểu vật” của từ( từ nào biểu thị sự vật, hoạt động, tính chất nào ?), vừa có tác dụng giúp học sinh mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ. Đây là hình thức luyện tập ở mức độ đơn giản.

    Ví dụ 1: Bài tập 1, Tiếng Việt 2/1 trang 8.

    Chọn tên gọi cho mỗi người, mỗi vật, mỗi việc được vẽ dưới đây (các từ cho sẵn: học sinh, nhà, xe đạp, múa, trường, bạn nhỏ chạy, hoa hồng, cô giáo).( Bức tranh vẽ học sinh, nhà, xe đạp, múa, trường, bạn nhỏ chạy, hoa hồng, cô giáo).

    - Với bài tập này, tôi đã sử dụng  phương pháp trực quan kết hợp phương pháp đàm thoại để hướng dẫn học sinh quan sát tranh, lần lượt đối chiếu từng hình với từ cho sẵn. Từ việc làm này, các em có thể từ cho sẵn với hình vẽ một cách dễ dàng. Tôi đã hướng dẫn cụ thể như sau:

    Hỏi: Bức tranh này vẽ gì?

    Nhìn vào 8 hình được vẽ trong tranh, hãy chỉ từng hình và gọi tên đúng theo hình vẽ.

    Tôi đã tổ chức cho các em làm việc theo nhóm đôi quan sát và trao đổi với nhau. Sau đó, giáo viên lần lượt yêu cầu các nhóm trả lời( theo thức tự các hình).

    Sau đó tôi kiểm tra bằng cách chỉ bất kì hình nào cho học sinh nêu tên hoặc nêu tên rồi yêu cầu học sinh chỉ hình.

    Thông qua đồ dùng trực quan, học sinh rất hứng thú học tập, tiếp thu nhanh  và nắm được tên gọi của người, của vật, xác định được từ chỉ người, vật trong tranh một cách nhanh chóng và chính xác.

    Ví dụ 2: Bài tập 1, Tiếng Việt 2/1 trang 142.

    Chọn cho mỗi vật dưới đây một từ chỉ đúng đặc điểm của nó:

    Nhanh, chậm, khoẻ, trung thành( bức tranh người dắt trâu, con thỏ, con rùa, con chó).

    Ơ ví dụ 1, các từ cho sẵn là danh từ và động từ, còn ở ví dụ 2 này là tính từ. Học sinh thực hiện yêu cầu ở ví dụ 1 dễ dàng hơn vì nhận biết các hoạt động của người, của vật. Còn ở ví dụ 2 thì khó hơn, vì vừa phải nhận biết tên loài vật, vừa phải nhận biết đặc điểm, tính nết của từng loài, đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ, động não hơn.

    Về cách dạy cũng giống như cách hướng trên : hướng dẫn cho học sinh lần lượt đối chiếu từ cho sẵn với hình tương ứng.

    Đáp án của bài tập trên:

               Trâu – khoẻ                                             Chó – trung thành

               Rùa – chậm                                             Thỏ – nhanh

    Từ cách làm này, tôi đã giúp học sinh mở rộng vốn từ qua tranh vẽ và cũng từ hình thức hoạt động nhóm, các em đã mạnh dạn trao đổi kinh nghiệm của mình với các bạn trong nhóm. Nhờ có sự hợp tác, giúp đỡ mà những học sinh yếu, các em đã mạnh dạn hơn, tự tin hơn và  hiểu bài nhanh hơn, vận dụng tốt hơn.

    b/ Dạng bài tập :”Dựa vào tranh, tìm từ tương ứng”.

    Ơ dạng bài tập này, từ cần tìm không cho sẵn, học sinh phải gọi tên sự vật, sự việc, hiện tượng,… được biểu thị trong hình vẽ. Do đó, giúp học sinh phát triển, mở rộng vốn từ cao hơn so với dạng bài tập: “ Ghép từ cho sẵn với hình vẽ tương ứng”.

    Ví dụ 1: Bài tập 2, Tiếng Việt 2/1 trang 59:

    Các tranh dưới đây vẽ một số hoạt động của người. Hãy tìm từ thích hợp cho mỗi hoạt động.( Bức tranh một bạn nhỏ đọc sách, một bạn nhỏ đang lắng nghe, hai bạn ngồi viết bài, bố và con nói chuyện).

    Đối với dạng bài tập này, tôi hướng dẫn học sinh quan sát, tìm tòi, suy nghĩ để tìm từ tương ứng, nhưng trong thực tiễn giảng dạy có thể xảy ra tình huống sau:

     Ơ bài tập này, yêu cầu học sinh tìm từ chỉ hoạt động, nhưng vì học sinh lớp Hai chưa có khái niệm đầy đủ về từ nên các em thường đưa ra các cụm từ, các ngữ, thậm chí có khi cả câu…

    Chẳng hạn như ở hình 3:  tranh chỉ hoạt động: nói, trò chuyện thì các em lại đưa ra đáp án là: cha con nói chuyện, hướng dẫn học bài. Trong các trường hợp này, tôi vẫn chấp nhận các ý kiến của các em. Nhưng tôi phải giảng giải cho các em hiểu được “ từ” để các em tìm được từ dễ dàng và chính xác hơn. Ơ bài tập này, tôi hướng dẫn học sinh bằng hệ thống câu hỏi gợi mở:

    - Trước tiên, các em phải quan sát thật kỹ các tranh 1, 2, 3,4 và trả lời các câu hỏi:

    + Các em hãy cho biết bức tranh vẽ gì?

    + Tìm các từ chỉ hoạt động của người trong tranh.

    Sau đó, yêu cầu các em làm việc cá nhân, ghi từ chỉ hoạt động của người ( trong tranh ) vào bảng con.

    Tiếp theo, tôi kiểm tra bảng con của từng em, nhận xét bài làm của các em để chốt lại những ý đúng rồi ghi lên bảng lớp.

    Đáp án:         Tranh 1 – đọc                             Tranh 2 – viết

                            Tranh 3 – nghe                           Tranh 4 – nói, trò chuyện, kể chuyện.

    Từ cách làm đó, tôi đã giúp học sinh mở rộng vốn từ, miêu tả về hoạt động của người theo tranh vẽ. Các em tiếp thu bài một cách dễ dàng nhờ hoạt động gần gũi với các em trong sinh hoạt, học tập hàng ngày.

    c/ Dạng bài tập: “ Gọi tên các con vật được vẽ ẩn trong tranh”.

    Điểm khác biệt giữa bài tập này với 2 dạng bài tập trên là: các con vật trong tranh không hiển hiện, rõ ràng mà ẩn giấu trong tranh, phải quan sát kỹ( kết hợp tưởng tượng) mới nhận biết được. Sự khác biệt này chủ yếu ở hình thức thể hiện.

    Ví dụ 1: Bài tập 3 Tiếng Việt 2/1 trang 52.

    “ Gọi tên các sự vật được vẽ ẩn trong tranh, cho biết các đồ vật để làm gì?”

    Đối với dạng bài tập này, tôi giúp học sinh nắm được yêu cầu của đề bằng cách sau:

    - Hướng dẫn các em hay quan sát tranh một cách chi tiết để tìm các vật tiềm ẩn khác ở trong tranh.

    - Học sinh là việc theo nhóm đôi, từng cặp trao đổi để tìm ra sự vật và ghi vào vở nháp.

    - Sau đó, tôi gọi một số học sinh nối tiếp nhau lên bảng chỉ và gọi tên đồ vật ở trong tranh, nói rõ tác dụng của từng vật.

    - Cả lớp cùng theo dõi, sửa chữa. tuyên dương các em phát hiện đúng, nhanh nhất. Cuối cùng, tôi chốt lại đáp án đúng:

               4 quyển vở( dùng để ghi bài).

               2 lọ mực( dùng để viết bài).

               2 bút chì( dùng để việt hoặc vẽ).

               1 thước kẻ( dùng để đo, để vẽ đường thẳng).

               1 ê ke( dùng để đo hoặc vẽ góc).

               1 compa( dùng để vẽ đường tròn).

    Ví dụ 2: BT 1, TV 2/1 trang 90.

    Tìm các đồ vật được vẽ ẩn trong tranh và cho biết mỗi đồ vật dùng để làm gì”

    - Mục đích của bài tập này là gọi tên được các đồ vật và nêu tác dụng của nó. Đối với bài tập này, tôi giúp học sinh nắm được yêu cầu của đề bằng cách thực hiện:

    - Hướng dẫn học sinh quan sát kỹ bức tranh một cách chi tiết để phát hiện đủ các đồ vật trong tranh, gọi tên chúng, nói rõ đồ vật ấy, được dùng để làm gì.

    - Cách tiến hành: Chia lớp thành 4 nhóm, phát cho mỗi nhóm 1 tờ giấy khổ to và một bút dạ để học sinh thi tìm tên các đồ vật trong tranh và viết vào giấy. Sau 1 thời gian qui định, đại diện các nhóm đính kết quả lên bảng. Các nhóm nhận xét lẫn nhau. Giáo viên nhận xét chung, tuyên dương và kết luận nhóm thắng cuộc.

    Trong tranh đó có:

    + 1 bát hoa: để đựng thức ăn.

    + 1 cái xỉa: để đựng thức ăn.

    + 1 cái chảo: để xào thức ăn.

    + 1 cái cốc: để uống nước.

    + 1 cái cốc có quai: để uống nước trà.

    + 2 cái đĩa hoa: để đựng thức ăn.

    + 1 ghế tựa: để ngồi.

    + 1 cái kiềng: để bắc bếp.

    + 1 cái thớt: để thái thức ăn.

    + 1 con dao: để cắt, thái.

    + 1 cái thang: để trèo lên cao.

    + 1 cái giá: để trao mũ, áo.

    + 2 cái bàn: để ngồi học, làm việc.

    + 1 cái chổi: để quét nhà.

    + 1 cây đàn ghi ta: để chơi nhạc.

    + 1 cái nồi: để nấu thức ăn.

    Với dạng bài tập này, tôi nhận thấy học sinh rất hứng thú trong học tập, kích thích sự tìm tòi của các em. Mỗi tên gọi là một từ mà học sinh được mở rộng, được củng cố qua trò chơi( tranh đố). Các em còn nói rõ công dụng của các vật vừa tìm được một cách dễ dàng vì các vật đó là các đồ dùng học tập của các em thường dùng. Mặt khác còn khắc sâu, củng cố cho học sinh về “ nghĩa biểu vật” của các từ vừa tìm được, vốn từ  của học sinh được mở rộng .

    1.2 . Kiểu bài tập mở rộng vốn từ: “ theo quan hệ ngữ nghĩa”

    Mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa là dựa trên mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ trong ngôn ngữ có mối quan hệ với nhau về nghĩa như: quan hệ đồng nghĩa, cùng nghĩa, trái nghĩa,… Kiểu bài tập này nhằm mở rộng, phát triển vốn từ                ( phong phú hoá vốn từ). Ơ các kiểu bài tập này thì thường có các từ cho sẵn ( gọi là từ mẫu hoặc từ điểm tựa). Trong sách Tiếng Việt Hai, kiểu bài tập này chiếm tỉ lệ khá cao. Dựa vào đặc trưng, tính chất của hoạt động liên tưởng khi tìm từ ngữ có thể chia kiểu bài tập này thành các dạng như sau:

    a/ Dạng bài tập “ Tìm từ ngữ cùng chủ điểm”

    Dạng bài tập này chia làm 2 dạng nhỏ:

    * Dạng 1: Các từ ngữ cùng chủ điểm ở ngoài văn bản.

    Dạng bài tập này chiếm vị trí chủ đạo trong các bài tập “ tìm từ ngữ cùng chủ điểm”.

    Ví dụ 1: bài tập 2, sách Tiếng Việt 2/1, trang 9.

     Tìm các từ:

    - Chỉ đồ dùng học tập( M: bút, thước kẻ)

    - Chỉ hoạt động của học sinh( M: đọc, viết)

    - Chỉ tính nết của học sinh( M: chăm chỉ, cần cù)

    Các từ cần tìm ở đây thuộc cùng một chủ đề, chủ điểm từ ngữ. Khi dạy dạng bài tập này, tôi thường dựa vào các ví dụ mẫu trong sách giáo khoa để hướng dẫn học sinh tìm từ, đồng thời giúp học sinh hiểu rõ yêu cầu của bài tập. Với cách làm trên, học sinh có thể tìm được các từ sau:

    - Chỉ đồ dùng học tập( M: sách, vở, bảng con)

    - Chỉ hoạt động của học sinh( M: đọc, viết)

    - Chỉ tính nết của học sinh( M: ngoan, lễ phép)

    * Dạng 2: Các bài tập cùng chủ điểm nằm trong 1 văn bản.

    Khi dạy dạng bài tập này, tôi đã hướng dẫn học sinh dựa vào nội dung bài văn, bài thơ, dựa vào mối quan hệ ngữ nghĩa của các từ cần tìm với các từ ngữ cùng chủ điểm tiềm ẩn trong các câu thơ, bài văn một cách chậm rãi, vừa đọc, vừa tìm từ ngữ theo yêu cầu. Tìm được từ nào, học sinh dùng bút chì gạch chân. Với cách này, học sinh tìm được một cách dễ dàng.

    Ví dụ 2: bài tập 1, Tiếng Việt 2/1 trang 82.

    Tìm những từ ngữ chỉ người trong gia đình, họ hàng ở câu chuyện: “ Sáng kiến của bé Hà”.

         Học sinh sẽ tìm được các từ ngữ chỉ người trong gia đình, họ hàng là: bố, ông, bà, con, mẹ, cháu, con cháu.

     b/ Dạng bài tập: “ Tìm từ cùng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa với các từ cho

    Ơ dạng bài tập này, bao giờ cũng có từ cho sẵn. Từ cho sẵn có tác dụng làm cơ sở, chỗ dựa cho hoạt động liên tưởng, tìm từ của học sinh. Đối với trường hợp từ cho sãn có nghĩa trừu tượng, khó nhận biết, để giúp hoạt động tìm từ của học sinh, tôi đã giải thích từ cho săn và nêu một số ngữ cảnh điển hình trong đó có sử dụng từ cho sẵn ấy. Hoạt động liên tưởng, tìm từ của học sinh sẽ đúng phương hướng, đúng yêu cầu, có hiệu quả. Khi học sinh đã nắm chắc nghĩa của từ cho sẵn, tôi còn hướng dẫn học sinh nắm được quan hệ đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa giữa các từ trong ngôn ngữ.

    Ví dụ 1: bài tập 1 Tiếng Việt 2/1 trang 133.

    Tìm các từ trái nghĩa với mỗi từ sau: tốt, ngoan, nhanh, trắng, cao, khoẻ.

    M: tốt > < xấu.

    Khi hướng dẫn học sinh làm bài tập này, tôi đã hướng dẫn học sinh khai thác cặp từ mẫu( M: tốt >< xấu). Mẫu này có tác dụng cụ thể hoá yêu cầu của bài tập, giúp học sinh hiểu rõ công việc cần phải thực hiện của bài tập. Tôi cho học sinh tìm 1 từ có thể có nhiều từ trái nghĩa( ở mức độ khác nhau) đối với từ cho sẵn và vẫn có thể chấp nhận được.

    Đáp án:

    Ngoan > < hư, bướng bỉnh, hỗn hào,…

    Nhanh  > < chậm, chậm chạp,…

    Trắng > < đen, đen sì, đen kịt,…

    Cao> < thấp, lùn,…

    Khoẻ> < yếu, ốm o,…

    2. Kiểu bài tập “Luyện tập và sử dụng từ”

    2.1.Kiểu bài tập “Nắm nghĩa của từ”

    Mục tiêu: học sinh biết lựa chọn và sử dụng từ ngữ đã học đã biết để điền vào chỗ trống trong các câu văn, đoạn văn sao cho thích hợp về nghĩa, đặt câu đơn giản với từ đã cho. Biết nhận ra từ dùng sai và sửa lại cho đúng.

    Sử dụng từ chính là chọn từ ngữ trong vốn từ của mình( hoặc từ ngữ cho sẵn trong bài tập) rồi kết hợp nhàu thành các đoạn… theo những quy tắc nhất định. Kiểu bài tập này rất khó đối với học sinh lớp Hai vì vốn từ của các em còn hạn chế, kỹ năng sử dụng từ của cá em còn non nớt. Để thực hiện hướng dẫn học sinh rèn luyện kỹ năng sử dụng từ. Sách giáo khoa Tiếng Việt Hai đã xây dựng các bài tập sử dụng từ được chia nhỏ thành các dạng bài tập như: điền từ, dùng từ đặt câu,…..

    a/ Dạng bài tập: “ Điền từ vào chỗ trống trong câu”.

    Bài tập tuy ở mức độ đơn giản nhưng bài tập điền từ thể hiện rõ yêu cầu giúp học sinh luyện tập sử dụng từ. Ơ bài tập này,  muốn tìm từ điền vào chỗ trống thích hợp đòi hỏi học sinh phải tiến hành các thao tác lựa chọn với các từ đứng trước, đứng sau trong chuỗi lời nói( từ là điền từ đã chọn ấy vào chỗ trống trong câu). Như vậy, muốn chọn từ thích hợp, tôi đã hướng dẫn học sinh nắm được nghĩa của từng từ định chọn, nhất là phải nắm được các sắc thái nghĩa của từ trong các từ cùng nghĩa, gần nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa có thể xuất hiện ở một vị trí trống nào đó trong chuỗi lời  nói. Từ đó học sinh mới hiểu được từ định chọn có tương hợp về nghĩa với các từ đứng trước và đứng sau nó trong chuỗi lời nói hay không.

    Ví dụ 1: bài tập 2, Tiếng Việt 2/1 trang 67.

    Chọn từ trong ngoặc đơn thích hợp để điền vào chỗ trống( giơ, đuổi, chạy, nhe, luồn).

     Tôi đã hướng dẫn học sinh làm bài tập bằng cách gợi ý như sau:

    - Học sinh phải đọc thầm bài đồng dao nhiều lần.

    - Gợi  ý cho các em biết trạng thái, hoạt động của mỗi con vật trong câu như:

    + Khi mèo nhìn thấy chuột thì thường làm gì?

    + Khi đuổi chuột thì hành động của mèo ra sao?

    + Khi bị mèo đuổi thì chuột như thế nào?

    Dựa vào hướng dẫn, của giáo viên mà học sinh đã suy nghĩ và chọn được các từ thích hợp để điền vào chỗ trống.

    - Cả lớp làm vào vở, 2 em làm trên bảng .

    - Giáo viên sửa bài, chốt lại đáp án đúng(các từ in nghiêng)

    - Cả lớp đọc bài đồng dao:

                                             Con mèo, con mèo

                                             Đuổi theo con chuột

                                             Giơ vuôt, nhe nanh

                                             Con chuột chạy nhanh

                                             Luồn hang, luồn hốc.

    Ví dụ 2: Chọn từ chỉ hoạt động thích hợp với mỗi chỗ trống dưới đây:

    a. Cô Tuyết Mai ……………………. Môn Tiếng Việt.

    b. Cô………………….. bài rất dễ hiểu.

    c. Cô……………………chúng em chăm học.

    Đối với loại bài tập không cho từ sẵn như vậy . thì tôi sẽ hướng dẫn học sinh làm bài tập bằng gợi ý sau:

    - Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập bằng hệ thống câu hỏi: Chọn từ chỉ gì? Hoạt động của ai?,….

    - Học sinh muốn biết hoạt động của ai thì học sinh phải đọc kỹ 3 câu trên, sau đó, giáo viên hướng dẫn từng câu:

    + Cô giáo đến trường để làm gì?( Dạy).

    + Muốn học sinh hiểu bài thì cô giáo phải làm gì?( Giảng)

    + Muốn học sinh chăm học thì cô giáo phải làm gì?( Khuyên)

    - Dựa vào hướng dẫn và gợi ý của giáo viên mà học sinh đã chọn được các từ thích hợp để điền vào chỗ trống.

    - Cả lớp làm vào vở bài tập, học sinh lên bảng làm.

    - Giáo viên nhận xét, sửa sai và kết luận:

    a. Cô Tuyết Mai dạy Môn Tiếng Việt.

    b. Cô giảngbài rất dễ hiểu.

    c. Cô khuyên chúng em chăm học.

    Qua 2 bài tập này, giúp các em luyện tập kỹ năng lựa chọn từ cho sẵn hoặc không cho sẵn để điền vào chỗ trống. Từ đó rèn cho các em về câu hoàn chỉnh và rèn luyện thêm cho các em về từ.

    b/ Dạng bài tập: “ Dùng từ đặt câu”.

    Dạng bài tập: “ Dùng từ đặt câu” chủ yếu luyện cho học sinh biết kết hợp từ ngữ trong câu. Như ta đã biết, các từ kết hợp với nhau để tạo nên câu thì chúng hình thành mối quan hệ ý nghĩa và mối quan hệ ngữ pháp. Do đó, muốn đặt câu đúng, chủ thể nói năng phải thiết lập được mối quan hệ ý nghĩa và mối quan hệ ngữ pháp hợp lý giữa các từ. Như vậy, kiểu bài này không chỉ liên quan đến từ ngữ mà còn liên quan đến ngữ pháp như: Đặc điểm ngữ pháp của từ, mô hình câu,…

    Ví dụ 1: bài tập 3, Tiếng Việt 2/1 trang 108

     Chọn và sắp xếp các từ ở 3 nhóm sau thành câu

    Nhóm 1: Em, chị em, Linh, cậu bé.

    Nhóm 2: Quét dọn, giặt, xếp, rửa.

    Nhóm 3: Nhà cửa, sách vở, bát đũa, quần áo.

    Ai

    Làm gì?

    Em

    Quét dọn nhà cửa

    Khi hướng dẫn học sinh làm bài, yêu cầu học sinh phải nắm chắc và hiểu mẫu câu “ai” là phải chọn từ ở nhóm 1, “ làm gì” chọn từ ở nhóm 2 và nhóm 3 cho phù hợp sao cho khi ghép tất cả các từ lại, ta được 1 câu đúng. Một điểm lưu ý lớn đối với học sinh là khi đặt được câu rồi thì chữ cái đầu câu phải viết hoa, cuối câu phải có dấu chấm.

    - Học sinh tiến hành đặt câu( làm miệng) sau đó các em làm vào vở bài tập. Giáo viên thu một số vở, chấm và nhận xét.

    Đáp án: Em quét dọn nhà cửa.

                    Linh rửa bát đũa.

                    Cậu bé xếp sách vở.

                    Chị em giặt quần áo.

    Ví dụ 2: bài tập 2, Tiếng Việt 2/ 1 trang 116.

    Chọn và sắp xếp các từ ở 3 nhóm sau thành câu

    Nhóm 1: Anh, chị, em, anh em, chị em.

    Nhóm 2: khuyên bảo, chăm sóc, trông nom, giúp đỡ

    Nhóm 3: anh, chị, em, nhau

    Ai

    Làm gì?

    Chị em

    Giúp đỡ nhau

    Khi hướng dẫn học sinh làm bài, yêu cầu học sinh phải nắm chắc và hiểu mẫu câu “ai” là phải chọn từ ỏ nhóm 1, “ làm gì” chọn từ ở nhóm 2 và nhóm 3 cho phù hợp sao cho khi ghép tất cả các từ lại ta được 1 câu đúng. Một điểm lưu ý lớn đối với học sinh là khi đặt được câu rồi thì chữ cái đầu câu phải viết hoa, cuối câu phải có dấu chấm.

    - Cho học sinh trao đổi cặp đôi sau đó các em làm vào vở bài tập, học sinh làm bài trên bảng lớp.

    - Giáo viên nhận xét, sửa sai và kết luận.

    Đáp án:    Anh khuyên bảo em.

                        Chị chăm sóc em.

                       Anh chăm sóc em

                       Anh em trông nom nhau.

                       Chị em giúp đỡ nhau.

                       Chị em trông nom nhau.

    - Nếu học sinh đặt câu:

      “ Anh chăm sóc anh” tôi sẽ giúp học sinh thêm “ tự, mình” thì sẽ được câu: “Anh chăm sóc mình”.

    -Nếu học sinh đặt câu:

    -         “ Chị em chăm chị” thì tôi sẽ giải thích cho học sinh biết đó là câu sai về nghĩa: vì chị em ở đây có nghĩa là “ chị và em” trong gia đình

    Qua 2 bài tập trên đã giúp cho học sinh rèn luyện kỹ năng lựa chọn từ( dùng các từ cho sẵn) kết hợp từ theo mô hình câu cho sẵn để tạo thành câu hoàn chỉnh, có tác dụng rèn luyện cho các em về mô hình câu và rèn luyện cho các em về sử dụng  từ.

    2.2. Kiểu bài tập “Phân loại, phân nhóm từ”

    Loại bài tập này yêu cầu học sinh dựa vào những sự vật  hiện tượng được biểu thị trong từ để phân loại hoặc các nhóm từ. Mỗi loại, mỗi nhóm này la một hệ thống ngữ nghĩa. Vì vậy, loại bài tập này có tác dụng giúp học sinh rèn luyện tư duy hệ thống.

    Ví dụ 1: bài tập 2, Tiếng Việt 2/2 trang 27.

    Xếp tên các con vật có trong ngoặc đơn vào nhóm thích hợp( Cú mèo, gõ kiến, chim sâu, cuốc, quạ, vành khuyên).

    a. Gọi tên theo hình dáng.(M: Chim cánh cụt.)

    b. Gọi tên theo cách kiếm ăn. (M: Chim bói cá.)

    c. Gọi tên theo tiếng kêu.( M: Tu hú.)

    Đối với bài tập này, tôi yêu cầu học sinh muốn phân loại chính xác cần chú ý đến tiêu chí phân loại, chú ý đến hình dáng, tiếng kêu, cách kiếm ăn,… từ đó, học sinh đối chiếu với từng từ cho sẵn với từng tiêu chí đã nêu để quyết định từ nào thuộc nhóm nào. Theo cách này, các em biết được các loại chim được xếp vào nhóm theo mẫu trên.

    -         Cho học sinh làm  theo nhóm, sau đó trình bày kết quả trước lớp.

    -          Cả lớp cùng giáo viên nhân xét, kết luận bài làm của học sinh.

    Gọi tên theo hình dáng

    Gọi tên theo tiếng kêu

    Gọi tên theo cách kiếm ăn

    Vàng anh, cú mèo

    Cuốc, quạ

    Chim sâu, gõ kiến

    Ví dụ 2: bài tập 2, Tiếng Việt 2/2 trang 73.

    Hãy xếp các loại cá vẽ dưới đây vào nhóm thích hợp( Cá thu, cá mè, cá chép, cá chim, cá trê, cá chuồn, cá nục, cá quả)

    - Cá nước mặn( cá biển)

    - Cá nước ngọt( cá sông, suối, hồ, ao,…)

    Khi dạy bài này, tôi đưa tranh cho học sinh quan sat và đọc ký các loài cá có trong tranh. Sau đó hướng dẫn các em lưu ý đến 2 tiêu chí: cánước mặn và cá nước ngọt. Từ đó, học sinh đối chiếu từng loại cá cho sẵn với từng tiêu chí đã nêu và quyết định xem từng từ thuộc nhóm nào. Theo cách làm này, học sinh dễ nhận ra và phân loại được các nhóm.

    Cá nước mặn( cá biển)

    Cá nước ngọt( cá sông, hồ, ao,….)

    Cá nục, cá thu, cá chuồn, cá chim

    Cá chép, cá mè, cá trê, cá quả

    Tóm lại: Để dạy LTVC cho học sinh lớp Hai đạt hiệu quả, GV phải nghiên cứu nội dung chương từ đó có cơ sở để phân loại bài tập. Mỗi loại bài tập có mục đích riêng, nhằm đạt được mục tiêu riêng vì vậy GV căn cứ vào đó để lựa chọn PP, hình thức dạy học phù hợp.Đặc biệt đối với HS lớp Hai, vốn từ của các em còn rất hạn chế, nên GV phải khai thác triệt để vốn sống của các em trong quá trình dạy học. Có như vậy mới giúp các em mở rộng vốn từ và sử dụng từ thành thạo

    III/ KẾT QUẢ THỰC HIỆN.

    Sau một thời gian thực hiện, rút kinh nghiệm, kết quả việc thực hiện như sau:

    Sĩ số : 22.

    Tiêu chí

    đánh giá

    Kết quả khảo sát trước khi thực hiện đề tài

    Kết quả thực hiện đề tài

    So sánh

    K1

    K2

    K1

    K2

    K1

    K2

    Hứng thú học tập

    15

    16

    19

    21

    Tăng 4

    Tăng 5

    Hiểu bài nhanh

    12

    11

    18

    17

    Tăng 6

    Tăng 6

    Vận dụng tốt

    10

    11

    20

    20

    Tăng 10

    Tăng 9

     

    Nhìn vào số liệu trên cho thấy học sinh hứng thú học tập, mọi đối tượng đều tham gia vào các hoạt động rất sối nổi và tích cực. Từ hứng thú hoc tập nên các em đã tiếp thu bài và hiểu bài nhanh, từ đó, các em đã vận dụng thực hành tốt.

    IV/ BÀI HỌC KINH NGHIỆM.

    Để nâng cao chất lượng dạy học phân môn “ Luyện từ và câu” cho học sinh lớp Hai, trước hết giáo viên phải:

    - Nắm chắc nội dung, chương trình phân môn và Luyện từ và câu, mục tiêu, nhiệm vụ của phân môn trong chương trình môn Tiếng Việt 2 nói riêng và bậc Tiểu Học nói chung để lấy đó làm cơ sở cho việc lựa chọn phương pháp  và hình thức dạy học phù hợp.

    - Giáo viên phải phân loại các kiểu bài tập theo hệ thống bài tập của phân môn “Lluyện từ và câu”. Mỗi kiểu bài tập có nhiệm vụ, mục đích và yêu cầu khác nhau nên giáo viên phải biết lựa chọn phương pháp, hình thức thích hợp với từng dạng bài và từng đối tượng học sinh của mình để nâng cao chất lượng học tập của học sinh ở phân môn Luyện từ và câu nói riêngmôn Tiếng Việt nói chung.

    - Ngoài đồ dùng học tập sẵn có ở thư viện, giáo viên cần tích cực làm thêm đồ dùng dạy học nhằm phục vụ cho bài dạy càng thêm sinh động, hấp dẫn học sinh. Thường xuyên nghiên cứu, làm phiếu bài tập góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy.

    Trên đây là một số kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Luyện từ và câu ở lớp Hai. Với kinh nghiệm còn ít, tôi rất mong được sự góp ý chân thành của các bạn đồng nghiệp.

    Xin chân thành cảm ơn.

                                                               Lê Thị Hương

                                                                            

     

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Thị Hương @ 15:00 12/11/2012
    Số lượt xem: 545
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến