Liên kết website

Tài nguyên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    5 khách và 0 thành viên

    Hội thi Duyên dáng học đường năm học 2015 - 2016 hoạt động chào mừng Đại hội XII của Đảng của trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng

    Phóng sự của Đài TT Gia Lai về thư viện trường TH Đinh Tiên Hoàng

    Gốc > Diễn đàn giáo dục >

    BÁO CÁO ĐỀ DẪN

          

            UBND HUYỆN ĐAK PƠ                       CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO                             Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

     

                                                                              Đak Pơ, ngày      tháng 12 năm 2008

     

    BÁO CÁO

    Tình hình chất lượng giáo dục tiểu học của học sinh dân tộc Bahnar

    trên địa bàn huyện và những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục

     

    I. THỰC TRẠNG VỀ GIÁO DỤC  DÂN TỘC Ở TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN

    1/ Tình hình trường lớp, học sinh dân tộc thiểu số (DTTS)

    Tổng số trường có học sinh tiểu học: 09 trường,

    Số trường có học sinh tiểu học là người dân tộc Bahnar:  06 trường.

    Số lớp học ở tiểu học toàn huyện: 154 lớp

    Số lớp học có học sinh DTTS: 76 lớp

    Tổng số học sinh tiểu học toàn huyện: 3756 em, giảm 23 em, tỉ lệ 0,6%

    Số học sinh DTTS: 1118 em, chia ra:

    Lớp 1: 306 HS;     

    Lớp 2: 227 HS;              

    Lớp 3: 224 HS;                        

    Lớp 4: 184 HS;              

    Lớp 5: 177 HS;     

    2/ Những thuận lợi và khó khăn     

    a/ Thuận lợi: Được sự quan tâm lãnh đạo của Huyện ủy, Đảng ủy cơ sở và các chi bộ nhà trường, chỉ đạo chỉ đạo của UBND huyện và UBND các xã; sự quan tâm chăm lo cho việc học tập của con em mình đối với phụ huynh, tiêu biểu như xã Đak Pơ, xã An Thành, làng Krong-Ktu xã Yang Bắc,v.v,… Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đang công tác tại vùng đồng bào DTTS nhiệt tình, tâm huyết với nghề dạy học, tận tụy với nghề, tận tình với học sinh. Hệ thống trường lớp học tương đối đảm bảo. Bộ Giáo dục và Đào tạo có Hướng dẫn dạy học theo vùng, miền nhằm tạo điều kiện cho từng địa phương lựa chọn nội dung, phương pháp hình thức cho phù hợp với địa phương mình.

     

    b/ Khó khăn: Đối với DTTS toàn huyện có 15 điểm trường lẻ (Đinh Tiên Hoàng 01 điểm, Kim Đồng 02 điểm, Trần Quang Khải 01 điểm, Đào Duy Từ 07 điểm, Đống Đa 01 điểm, Lương Thế Vinh 03 điểm, ngoài hệ thống trường lớp học ra, các điều kiện phục vụ giảng dạy và học tập như ĐDHT của học sinh, thiết bị dạy học của nhà trường và các phương tiện vật chất khác chưa đáp ứng được nhu cầu học tập và rèn luyện của các em. Việc duy trì sĩ số và tỉ lệ học chuyên cần gặp nhiều khó khăn: số HS lớp nhỏ (lớp 1,2) theo cha mẹ lên rẫy, học sinh các lớp lớn hơn (lớp 4,5) tham gia lao động sản xuất cùng gia đình. Các em không có điều kiện và thói quen tự học bài, ôn bài ở nhà. Cha mẹ chưa quan tâm nhiều đến việc học tập của con em mình.

    3/ Kết quả đạt được trong những năm qua

              Hệ thống trường lớp học được Nhà nước quan tâm đầu tư xây dựng đủ số lượng, từng bước được kiên cố hóa đáp ứng được nhu cầu mở lớp đến từng làng, tạo điều kiện cho trẻ trong độ tuổi tiểu học ra lớp. Thiết bị dạy học, bàn ghế học sinh được trang bị đủ theo yêu cầu.

              Huy động học sinh trong độ tuổi ra lớp đạt cao: hàng năm đạt từ 99 % trở lên. Duy trì sĩ số đạt 99,4%. Chất lượng học tập từng bước có chuyển biến tích cực; tỉ lệ trẻ học đúng độ tuổi ngày càng cao, đạt 90,7%; tỉ lệ trẻ hoàn thành chương trình tiểu học đúng độ tuổi đạt chuẩn theo quy định của Bô Giáo dục và Đào tạo. Có 8/8 xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, tỉ lệ trẻ hoàn thành chương trình tiểu học đúng độ tuổi đạt 85,5%.

    Bảng thống kê chất lượng hai môn Toán và Tiếng Việt cuối HKI đạt từ trung bình trở lên của học sinh DTTS như sau:

    Đơn vị

    L1

    L2

    L3

    L4

    L5

    Cộng

    Toán

    TV

    Toán

    TV

    Toán

    TV

    Toán

    TV

    Toán

    TV

    Toán

    TV

    Cấp tiểu học

    73,9

    69,7

    77,5

    72,7

    72,3

    69,6

    77,2

    85,3

    76,8

    83,1

    75,3

    74,3

    4/ Những mặt yếu kém

              Tỉ lệ đi học chuyên cần thấp nên việc tiếp thu bài không liên tục, không có hệ thống. Chất lượng học tập thấp, không bền vững, nhất là hai môn công cụ Toán và tiếng Việt; chất lượng toàn diện không cao, học sinh hoàn thành chương trình lớp học, hoàn thành chương trình tiểu học nhưng kỹ năng sống theo lứa tuổi, khả năng vận dụng kiến thức đã học vào đời sống còn nhiều hạn chế. Các em còn rụt rè, thiếu tự tin trong giao tiếp cộng đồng, nhất là cộng đồng đa dân tộc.

    Sau đây là tổng hợp số liệu chất lượng dưới trung bình hai môn Toán và Tiếng Việt

    cuối HKI, năm học 2008-2009

    TT

    Đơn vị

    L1

    L2

    L3

    L4

    L5

    Cộng

    Toán

    TV

    Toán

    TV

    Toán

    TV

    Toán

    TV

    Toán

    TV

    Toán

    TV

    1

    Đống Đa

    9

    11

    0

    0

    5

    9

    0

    0

    4

    4

    18

    24

    2

    Đào Duy Từ

    15

    16

    13

    13

    9

    13

    5

    5

    7

    5

    49

    52

    3

    Đinh T. Hoàng

    12

    12

    7

    7

    7

    10

    8

    6

    6

    4

    40

    46

    4

    Trần Q. Khải

    0

    5

    6

    6

    9

    3

    2

    0

    4

    0

    21

    14

    5

    Kim Đồng

    19

    21

    13

    16

    13

    12

    7

    5

    12

    8

    64

    62

    6

    L.T. vinh

    25

    28

    12

    20

    19

    21

    20

    11

    8

    9

    84

    89

    7

    N.Quyền

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    8

    L.Q.Đôn

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    9

    Trần . Phú

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

     

    Cộng

    80

    93

    51

    62

    62

    68

    42

    27

    41

    30

    276

    287

     

    Tỉ lệ %

    26,1

    30,3

    22,5

    27,3

    27,7

    30,4

    22,8

    14,7

    23,2

    16,9

    24,7

    25,7

     

    5/ Nguyên nhân của những yếu kém

              Chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng học tập nói riêng là sản phẩm lao động sư phạm khoa học và chặt chẽ theo hệ thống gồm nhiều thành tố tạo nên, mỗi thành tố có ý nghĩa, tầm quan trọng riêng đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, ràng buộc nhau, hỗ trợ cho nhau trong quá trình lao động “dạy học – giáo dục”. Kết quả lao động cao hay thấp phụ thuộc vào sự đồng bộ hay không đồng bộ của các thành tố đó. Các thành tố đó là: hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, phương tiện dạy của giáo viên, phương tiện học của học sinh; người học tham gia học tập một cách thường xuyên, liên tục, hệ thống (tỉ lệ học tập chuyên cần); năng lực dạy học của nhà giáo;các hoạt động ngoài giờ lên lớp và một số thành tố khác. Các thành tố trên được thể hiện theo cơ chế giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Sở dĩ chất lượng giáo dục còn những yếu kém như nói ở trên là do các yếu tố nói trên chưa được thực hiện một cách đồng bộ, từng yếu tố còn có sự tách biệt nhất định, trong từng yếu tố nơi này hay nơi khác còn nhiều kém được thể hiện trong thực tiễn như sau:

              Về cơ sở vật chất: phần lớn lớp học ở các điểm trường lẻ thuộc các trường đều trong tình trạng không đảm bảo ánh sáng: chói nắng và nóng khi trời nắng nóng; lạnh và tối về mùa đông và những ngày mưa, nhất là đối với các lớp học ca chiều. Bàn ghế học sinh phần lớn không đảm bảo quy cách, quá cao và khoảng cách giữa ghế với bàn xa đối với các lớp 1,2 nhưng lại quá chật hẹp với học sinh các lớp 4,5 các em phải liên tục ngồi học trong tình trạng mỏi mệt về thân thể, dẫn đến uể oải về tinh thần điều này ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của các em, trước hết là chữ viết, sau là tâm trạng tiếp thu bài. Mặt khác bàn đóng liền với ghế ảnh hưởng nhiều đến việc lựa chọn hình thức học tập như tổ chức học nhóm. Các phương tiện, thiết bị dạy học khác, sân chơi, bãi tập đều không có hoặc nhưng không đảm bảo cũng ảnh hưởng nhiều đến kết quả học tập và rèn luyện của các em. Việc sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học của giáo viên các lớp làng là rất hạn chế, phần lớn giáo viên dạy “chay” bởi vì TBDH được tập trung ở thư viện tại điểm trường chính, các điểm trường lẻ xa và trái đường với điểm trường chính. Bởi vậy giáo viên không thể cập nhất thường xuyên TBDH như lớp ở làng Bung, Tờ số của xã Ya Hội, làng Đê kruối, KRông Hra, Krông Ktu, Hven –Bung bang của xã Yang Bắc, làng Kuk kôn của xã An Thành, làng Hway của xã Hà Tam,v.v,... Tất cả những điều nói trên đều tác động rất lớn đến kết quả và chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh.

              Việc duy trì tỉ lệ đi học chuyên cần: đi học đều đặn của từng học sinh DTTS là yếu tố hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng. Bởi vì, ngoài thời lượng học bài trên lớp, ở trường ra các em không có sự hỗ trợ nào khác để ôn luyện, bổ sung kiến thức, các em không có thói quên học bài, làm bài ở nhà. Trong khi kiến thức của chương trình được thiết kế hết sức chặt chẽ, khoa học mang tính liên tục, kế tiếp từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Các em bỏ bài ở lớp, không bổ túc ở nhà thì các em sẽ không tiếp thu được những kiến thức của bài học sau, đặc biệt là với hai môn công cụ (Toán và Tiếng Việt). Tỉ lệ nghỉ học của học sinh DTTS là rất lớn. Có nhiều lý do dẫn đến việc các em nghỉ học nhưng chủ yếu ở bốn lý do sau đây: học sinh lớp nhỏ theo cha mẹ lên rẫy chơi, học sinh các lớp lớn đi lao động lấy tiền, do thời tiết mưa gió các em lười đi học và tự ti, mặc cảm khi không hiểu bài nhưng chưa được thầy cô, bạn bè động viên khích lệ.

              Về các hoạt động ngoài giờ lên lớp: Hoạt động ngoài giờ lên lớp góp phần hết sức quan trọng vào việc nâng cao chất lượng học tập và rèn luyện của các em, nhất là đối với học sinh DTTS. Các hoạt động vui chơi ở làng đối với các em rất đơn điệu, chỉ là lên rẫy bẫy chim, bẫy chuột, ra suối bắt cá và một vài hoạt động khác, các em không được tham gia các trò chơi dân gian, trò chơi mang tính giáo dục, trò chơi  đậm nét tập thể để rèn luyện các kỹ năng cũng như tích hợp kiến thức thông qua các trò chơi, thông hoạt động ngoài giờ lên lớp. Ngoài việc một vài trường quan tâm đến việc tổ chức cho các em tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp, tổ chức sinh hoạt Đội ở điểm trường chính. Số còn lại các nhà trường chưa thực sự quan tâm tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp cho các em, nhất là các em học ở điểm trường lẻ. Bản thân giáo viên cũng chưa nhiệt tình tổ chức, hướng dẫn và chưa chủ động tổ chức cho các em hoạt động. Một số hoạt động như tập thể dục giữa giờ, sinh hoạt đội giáo viên vẫn cho đó là nhiệm vụ của Tổng phụ trách Đội, của lớp trực tuần hoặc của cán bộ phụ trách văn thể mỹ. Chính vì vậy chưa tạo cho các em hứng thú đến trường được học, được vui chơi, được cô hướng dẫn chơi hay dạy cho trò chơi mới. Sự thân thiện giữa cô – trò là rất hạn chế.

              Việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh:

              Đối với giáo viên: hiện nay 100% giáo viên dạy đối tượng học sinh DTTS nói riêng đạt chuẩn về trình độ đào tạo, 100% giáo viên được bồi dưỡng chương trình cải cách giáo dục tiểu học, hàng năm đều được bồi dưỡng nghiệp vụ nhưng năng lực giảng dạy, trình độ tay nghề còn nhiều hạn chế; sự năng động, sáng tạo trong quá trình dạy học chưa cao, chưa thường xuyên. Việc đổi mới phương pháp giảng dạy thực hiện kém hiệu quả, chưa tự tin; tổ chức hình thức học tập còn đơn điệu, chưa quan tâm nhiều đến giáo dục ngoài trời, trừ môn thể dục. Mặt khác, tuy xác định tốt nhiệm vụ, yên tâm dạy học tại các điểm trường lẻ cũng như vùng khó khăn nhưng sự nhiệt tình gắn bó với các em còn ít. Phần lớn giáo viên đều xác định “đến giờ vào lớp dạy, hết giờ thì ra về” ít đến thăm gia đình học sinh, ít xuống làng họp dân vận động nhân dân cho con em đến trường, ít cùng chơi, cùng chia sẻ với học sinh. Trong hoạt động giáo dục của mình giáo viên chưa có nhiều biện pháp hướng dẫn, giúp đỡ các em học tập như tổ chức nhóm học tập ở nhà; phân công bạn có thành tích học tập tốt giúp bạn học yếu; cử cán sự bộ môn để giúp đỡ học sinh yếu; tổ chức việc truy bài đầu giờ học, v.v,… công tác chủ nhiệm lớp còn xem nhẹ. Chưa tạo được động lực thi đua giữa các tổ, nhóm trong lớp. Về phía nhà trường, một số trường chưa quan tâm đúng mức đến công tác chỉ đạo toàn diện đối với từng lớp, chưa có nhiều giải pháp đột phá mà chủ yếu theo đường mòn, nếp cũ.

              Đối với học sinh: việc học Tiếng Việt đối với học sinh DTTS là cực kỳ khó khăn giống như một ngoại ngữ, đây là trở ngại đầu tiên và lớn nhất đối với việc tiếp thu kiến thức của các môn học khác, nhưng các em lại không được ôn luyện nhiều và thường xuyên, mà chỉ dừng lại ở việc học tại trường. Trở về cộng đồng các em lại giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ mà không giao tiếp bằng Tiếng việt. Các em không có thói quen học bài, làm bài, ôn bài ở nhà nên kiến thức không được khắc sâu, nhớ lâu. Các hoạt động khác không được mở rộng mà chủ yếu khép kín trong công đồng làng nên Ơ trường các em thiếu phương tiện, đồ dung học tập như sách giáo khoa, vở bài tập, đồ dùng khác từ đó các em không có khả năng làm việc độc lập, không đủ thời gian để đào sâu suy nghĩ. Ví dụ: thiếu sách các em không thể một mình đọc bài và độc lập suy nghĩ, thiết thước kẻ, ê-ke, v.v các em phải chờ bạn dùng xong cho mượn thì mới làm việc, chưa kịp làm bài thì cô giáo đã chuyển sang nội dung khác,v.v. Đặc điểm tâm lý của học sinh DTTS là vị kỷ, tự ti, mặc cảm. Không hiểu nhưng không thắc mắc, không trao đổi; nếu thấy không thích thì bất cần nên các em dễ buông trôi, không có sự cố gắng nhiều.

              Tuy nhiên, những yếu kém, bất cập nói trên không phải là toàn bộ trên địa bàn huyện nhưng là phổ biến ở phần lớn các trường học. Bên cạnh đó vẫn có những trường hoặc những mặt của từng trường đã thực hiện tốt mang lại hiệu quả cao. Đây chính là những điển hình mà các trường cần học hỏi. Những điển hình đó sẽ được trình bày trong phần tham luận.

    II. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CẦN THỰC HIỆN ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CHO HOC SINH DTTS TRONG NHỮNG NĂM TỚI

    Chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng học tập nói riêng là sản phẩm lao động sư phạm khoa học và chặt chẽ theo hệ thống. Vì vậy, trong qúa trình triển khai nhiệm vụ các cấp giáo dục không được tuyệt đối hóa, tối ưu hóa hoặc cào bừng các giải pháp mà phải xác định đúng vị trí, vai trò của từng giải pháp trong mối tương quan chung của hệ thống các giải pháp.

    Trên cơ sở đó, để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục đối với học sinh DTTS nhằm rút ngắn sự chênh lệch và đuổi kịp với vùng thuận lợi các cấp giáo dục cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau đây:

    Một là, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho các lớp học vùng DTTS theo hướng kiên cố hóa, hiện đại hóa nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh, cụ thể là:

    Phòng Giáo dục và Đào tạo, các trường học tham mưu cho UBND các cấp quy hoạch diện tích đất cho các điểm trường lẻ ở các làng; cắm mốc ranh giới trường lớp học, làm hàng rào, cổng trường, biển trường, quy hoạch sân chơi, bãi tập để giáo viên và học sinh có điều kiện tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, tổ chức trò chơi, tổ chức tiết học ngoài trời,v.v,… từng bước trang bị thay thế bàn ghế học sinh không đủ tiêu chuẩn để tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên, học sinh tổ chức học tập tốt hơn; trang bị rèm che chống chói, mắc điện cho đủ ánh sáng lớp học. Chăm lo bảo quản, tu sửa lớp học, bàn ghế và các phương tiện khác đã có nhằm phát huy giá trị lâu dài.

    Các nhà trường cần nghiên cứu việc sử dụng THDH sao cho phù hợp. Ví dụ: có kế hoạch chỉ đạo cho giáo viên nghiên cứu nhu cầu thiết bị dạy học cho cả tuần, hoặc vài tuần sau đó cho giáo viên mượn theo yêu cầu. Các trường cần quan tâm cung cấp cho các lớp ở làng một số dụng cụ để các em tham gia hoạt động như bóng, bi, cầu.

    Đối với dụng cụ học tập của học sinh, một mặt các trường tăng cường công tác vận động phụ huynh mua sắm đủ cho các em, mặt khác các trường cần đa dạng hóa các hình thức vận động, quyên góp để các em có đủ dụng cụ học tập như vận động cơ quan giúp đỡ làng ủng hộ; tổ chức kết nghĩa với các trường thuận lợi để nhờ giúp đỡ. Có dụng cụ rồi cần tăng cường công tác giáo dục ý thức giữ gìn, bảo quản cho các em, đồng thời giáo viên tăng cường công tác kiểm tra việc việc sử dụng của các em.

    Hai là, về huy động học sinh ra lớp: những học sinh đi học không đều là thuộc đối tượng đã đề cập ở phần I, vì vậy việc vận động các em đi học đều không thể chỉ đơn phương học sinh hay giáo viên mà cần có sự tác động của nhiều phía, nhiều lực lượng, nhiều yếu tố. Trước hết về phía nhà trường, giáo viên cần tổ chức day học sao cho các em thấy được lớp học, nhà trường thực sự hấp dẫn, lôi cuốn các em; các em thấy rằng đi học tốt hơn, vui hơn theo cha mẹ lên rẫy; ở nhà các em thấy nhớ trường, nhớ thầy cô. Đây là động lực chính để huy động các em đi học thường xuyên. Thời gian qua vai trò của chi đội, phân đội, của Sao Nhi đồng, vai trò của GVCN trong công tác này còn lu mờ. Nhà trường cần có kế hoạch cho GVCN xuống làng họp dân, gặp phụ huynh, gặp già làng, trưởng làng định kỳ, coi đó là một chỉ tiêu thi đua. Nhưng trước hết Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng phải gương mẫu thực hiện trước và cùng thực hiện với giáo viên. Thực hiện chế độ thông tin hai chiều giữa nhà trường, giáo viên với phụ huynh, già làng, trưởng làng và chi đoàn, chi hội TN trong làng. Khắc phục bệnh hành chính trong công tác vận động.

    Ba là, Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp: Có thể coi việc học các môn văn hóa là phần cứng thì các hoạt động ngoài giờ lên lớp là phần mềm, đây là phần học có nhiều hấp dẫn thu hút, lôi cuốn các em tham gia, nhất là từ năm học này trở đi thực hiện việc đưa các trò chơi dân gian vào nhà trường. Các cấp giáo dục cần có nhận thức đúng về vấn đề này để từ đó có sự đầu tư đúng mức. Trước hết là sân chơi, bãi tập ở các lớp dưới làng, sau đó trang bị phương tiện, thiết bị để tổ chức hoạt động; sưu tầm, lựa chọn trò chơi cho các em chơi; các nhà trường cần có kế hoạch cử các em có năng khiếu định kỳ xuống các lớp ở làng để tổ chức, hướng dẫn cho các em hoạt động. Có thể nhờ các trường vùng thuận lợi hỗ trợ qua các hình thức giao lưu ngoại khóa hoặc với tư cách hướng dẫn viên. Ngoài việc tổ chức các hoạt động tại điểm trường các em đang học các nhà trường cần quan tâm đến việc cho các em tham gia các hoạt động tập thể ở môi trường khác (tùy theo đối tượng học sinh) như cho các em tham gia sinh hoạt với các anh chị lớp lớn, cho các em tham gia sinh hoạt tại điểm trường trung tâm, tham gia buổi chào cờ đầu tuần, tham dự lễ khai giảng, lễ tổng kết, lễ tuyên dương, v.v,…

    Bốn là, việc giảng dạy của giáo viên: đây là khâu quan trọng nhất, là nhân tố quyết định chất lượng học tập và giáo dục. Vì vậy trước hết các  nhà trường cần nhận thức sâu sắc vấn đề này để có sự đầu tư thỏa đáng ngay trong tư tưởng chỉ đạo từ việc bố trí giáo viên có trình độ tay nghề vững, có tâm huyết, có hoàn cảnh thuận lợi, am hiểu tâm sinh lý học sinh DTTS giảng dạy đến việc chỉ đạo cụ thể cho từng khối lớp. Trong quá trình chỉ đạo, ngoài việc thực hiện giảng dạy theo vùng miền theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT các trường cần có sự chỉ đạo theo đặc thù của trường mình, tránh tình trạng chỉ đạo theo thói quen, theo lối mòn. Cần lấy hoạt động dạy của giáo viên làm trung tâm trong quá trình chỉ đạo của nhà trường.

    Đối với giáo viên cần xác định rõ được giao nhiệm vụ dạy đối tượng học sinh DTTS là niềm tự hào chứ không phải là “bị” dạy; xác định dạy học sinh DTTS là vất vả hơn, thiệt thòi hơn, phải cố gắng, nỗ lực nhiều hơn nhưng kết quả mang lại là vinh quang hơn, tự hào hơn. Qúa trình dạy phải linh hoạt, nhạy bén trong từng bài dạy, theo từng đối tượng học sinh. Tránh tâm lý sợ sai, sợ khó, sợ khác đồng nghiệp, sợ bị chê trách. Bên cạnh việc “dạy” cần phải thực hiện việc “dỗ” đối với học sinh, khắc phục tình trạng “đến giờ vào dạy, hết giờ ra về”. Phải “thổi” vào tâm hồn các em sự ham học “vì ngày mai lập nghiệp”, phải tạo được sự thân thiện đích thực giữa giáo viên với học sinh sao cho mỗi lúc các em cần điều gì đó là các em tìm đến với cô chứ không phải chỉ là công việc dạy học thuần túy.

     Trên đây là báo cáo tình hình giáo dục của vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện trong thời gian qua và những giải pháp chủ yếu trong thời gian tới nhằm góp phần từng bước nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh DTTS. Mong quý vị đại biểu và các trường học đóng góp ý kiến thiết thực để chất lượng giáo dục dân tộc nói riêng và chất lượng giáo dục tiểu học trên địa bàn nói chung ngày càng tiến bộ, góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục huyện nhà./.

     

                                                                       TRƯỞNG PHÒNG

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Trọng Kỳ @ 13:41 22/02/2011
    Số lượt xem: 385
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến